Trong cấu trúc nền kinh tế hiện đại, công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đóng vai trò là "bệ đỡ" vững chắc, quyết định sức cạnh tranh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hoạt động trong lĩnh vực CNHT thuộc ngành Công Thương đang đứng trước những rào cản rất lớn về năng lực công nghệ, quản trị và khả năng kết nối chuỗi giá trị.
Trước thực tế đó, đề tài nghiên cứu khoa học, công nghệ cấp Bộ: "Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhỏ và vừa ngành Công Thương" đã được triển khai và nghiệm thu thành công. Đề tài không chỉ mang giá trị khoa học sâu sắc mà còn mở ra những hướng đi thực tiễn giúp cộng đồng doanh nghiệp CNHT Việt Nam tự tin bứt phá.
Bức tranh thực trạng: Những "điểm nghẽn" cần tháo gỡ
Theo thống kê từ tài liệu nghiên cứu, riêng trong lĩnh vực CNHT, cả nước hiện có khoảng 5.000 doanh nghiệp, trong đó gần 90% là các DNNVV có quy mô sản xuất dưới 300 lao động. Khối doanh nghiệp này chiếm tới 2/3 số cơ sở sản xuất và sử dụng 60% lực lượng lao động toàn ngành CNHT.
Mặc dù đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và gia tăng giá trị sản xuất, lực lượng DNNVV ngành CNHT đang phải đối mặt với không ít "điểm nghẽn":
Về trình độ công nghệ và năng lực sản xuất hạn chế: Sản phẩm CNHT trong nước chủ yếu vẫn là linh kiện, chi tiết đơn giản với hàm lượng công nghệ trung bình và thấp. Giá trị gia tăng tạo ra chưa cao.
Về thách thức nội địa hóa: Trong ngành dệt may - da giày, nguyên phụ liệu phải nhập khẩu từ 70% đến 80%. Trong ngành ô tô, tỷ lệ nội địa hóa đối với xe cá nhân dưới 9 chỗ chỉ đạt bình quân 7% - 10% (dù mục tiêu đặt ra từ nhiều năm trước là 40% - 60%).
Về sự chênh lệch với khu vực FDI: Trong ngành điện tử - tin học, khối doanh nghiệp FDI chiếm tới 90% tổng vốn đầu tư. Khoảng cách về tiêu chuẩn công nghệ, năng lực quản trị và chất lượng nguồn nhân lực giữa DNNVV Việt Nam với yêu cầu khắt khe của các tập đoàn đa quốc gia còn rất xa.
Về khó khăn về nguồn lực: Hầu hết doanh nghiệp gặp trở ngại trong việc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao và năng lực quản trị tiên tiến.
Những thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một hệ thống giải pháp mang tính chiến lược, đồng bộ và có tính khả thi cao để "hà hơi thổi pít-tông" cho các DNNVV ngành CNHT.
Kết quả đạt được của đề tài: Hệ thống giải pháp toàn diện và đa chiều: Đề tài đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Báo cáo nghiệm thu được xây dựng khoa học, logic, cung cấp góc nhìn toàn diện về 5 ngành, lĩnh vực then chốt bao gồm: Cơ khí, Ô tô, Điện tử, Dệt may và Da giày.
Giá trị khoa học và thực tiễn nổi bật
Về phân tích chiều sâu thực trạng: Đề tài đã chỉ ra chính xác các điểm nghẽn cốt lõi về công nghệ, quản trị, nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận vốn và liên kết chuỗi giá trị.
Về xây dựng hệ thống giải pháp khả thi: Nhóm nghiên cứu đã đề xuất giải pháp tập trung vào 4 trụ cột quan trọng: Nâng cao năng lực công nghệ và đẩy mạnh chuyển đổi số: Ứng dụng các công cụ quản lý sản xuất hiện đại, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ; Phát triển nguồn nhân lực: Nâng cao trình độ kỹ năng nghề và năng lực quản trị cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý; Tăng cường liên kết chuỗi giá trị: Tạo kết nối bền vững giữa DNNVV trong nước với các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp FDI; Cải thiện năng lực cạnh tranh & phát triển bền vững: Hướng tới sản xuất xanh, giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng suất lao động.
Về tính ứng dụng thực tế và hiệu quả kinh tế - xã hội: Điểm sáng lớn nhất của đề tài cấp Bộ lần này chính là tính ứng dụng thực tế cao, mang lại hiệu quả thiết thực cho cả doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng xã hội.
Theo đó, đối với Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ nhỏ và vừa: Tối ưu hóa sản xuất: Các giải pháp ứng dụng thực tiễn giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và tăng năng suất lao động.
Mở rộng thị trường: Giúp doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe, từ đó đủ năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn và tăng cơ hội xuất khẩu.
Đột phá về quản trị: Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng các thước đo đánh giá và mô hình quản trị linh hoạt, gia tăng khả năng thích ứng trước những biến động của thị trường.
Đối với Cơ quan quản lý nhà nước: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để Bộ Công Thương và các cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ; Xây dựng các cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện lan tỏa tri thức, thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp; Góp phần thúc đẩy tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, nâng cao tự chủ kinh tế.
Đối với Xã hội: Thúc đẩy tăng trưởng bền vững của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Tạo thêm nhiều việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cũng như cải thiện điều kiện làm việc cho lực lượng lao động, đặc biệt là lao động kỹ thuật cao.
Triển vọng ứng dụng và định hướng phát triển
Không dừng lại ở một báo cáo nghiên cứu, kết quả của đề tài có triển vọng ứng dụng vô cùng rộng mở: Tài liệu đào tạo: Kết quả nghiên cứu có thể được xuất bản thành sách tham khảo, giáo trình, tài liệu học tập phục vụ công tác giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo chuyên ngành; Tư vấn và chuyển giao: Hệ thống giải pháp có thể dễ dàng đóng gói thành các chương trình tư vấn cải tiến thực tế dành riêng cho các DNNVV ngành Công Thương.
Có thể khẳng định, kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học, công nghệ cấp Bộ lần này chính là "kim chỉ nam" quan trọng, góp phần hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp CNHT nhỏ và vừa ngành Công Thương nâng cao sức mạnh nội tại, tự tin đồng hành cùng tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
ThuyLT